Lực lượng Công an Quảng Bình cùng nhân dân bước vào thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 – 1960).
Bước qua năm 1958, sau khi hoàn thành cơ bản công cuộc khôi phục kinh tế, xã hội sau chiến tranh, Quảng Bình đã có những biến đổi nhanh chóng trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa – xã hội. Trên những cánh đồng hoang hóa dày đặc bom mìn, dây kẽm gai đã được thu dọn phục hoang, khoai lúa lên xanh. Nhiều ngành nghề truyền thống đã được khôi phục, số người thất nghiệp đã có việc làm. Những tàn dư của chế độ cũ đã dần dần được khắc phục, loại bỏ, đời sống nhân dân đã có nhiều cải thiện. Năm 1958, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình bước vào thực hiện kế hoạch 03 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 – 1960).
Tháng 01 năm 1958, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 12 đã đề ra nhiệm vụ chung cho toàn ngành trong 03 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa là: “Tăng cường bảo vệ kinh tế, bảo vệ văn hóa, bảo vệ cơ quan xí nghiệp, đẩy mạnh các mặt công tác quản lý công khai về trật tự trị an, giáo dục vận động quần chúng xây dựng phát triển phong trào bảo vệ an ninh trật tự… nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”[1].
Bám sát chức năng lãnh đạo của chi bộ cơ quan và nhiệm vụ chính trị của toàn ngành Công an trong giai đoạn mới, Chi bộ Đảng Ty Công an Quảng Bình hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, nhân viên. Coi học tập là vấn đề cần thiết nhất để nâng cao trình độ nhận thức cho mọi người thấy rõ tình hình và nhiệm vụ mới, đồng thời giáo dục, ngăn ngừa các hiện tượng có tính chất bè phái, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, tư tưởng cầu an hưởng lạc, tham ô, lãng phí… Đề xuất với Ban lãnh đạo Ty củng cố tổ chức Công đoàn và Đoàn Thanh niên Lao động trong cơ quan để lấy đó làm chỗ dựa phát động các phong trào thi đua đẩy mạnh các mặt công tác.

Một sự kiện lớn có liên quan đến công tác xây dựng các tổ chức Đảng trong lực lượng Công an Quảng Bình diễn ra trong thời gian này đó là: Ngày 19 tháng 11 năm 1958, Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 58/NQ-TW “Về xây dựng lực lượng Cảnh vệ và biên cương”. Nghị quyết nêu rõ: Để tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, bảo vệ tốt biên giới, bờ biển, giới tuyến, thực hiện được sự phân công hợp lý giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Đảng đoàn Bộ Công an, Bộ Chính trị quyết định thống nhất các đơn vị Bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng Công an Biên phòng, xây dựng thành một lực lượng vũ trang của Đảng và Nhà nước chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên cương giao cho ngành Công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là lực lượng Cảnh vệ.
Ngày 03 tháng 3 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/Ttg “Về việc thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang”. Nghị định nêu rõ: Nay thống nhất các đơn vị bộ đội biên phòng đang làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị Công an biên phòng, Cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa lấy tên là “Công an nhân dân vũ trang” (CANDVT). Ở cơ quan Tỉnh bộ, Ban chỉ huy CANDVT Quảng Bình có 04 ban: Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Trinh sát, Ban Hậu cần và các trung đội Thông tin, Công binh, Vận tải, Trinh sát vũ trang.
Năm 1959, ở miền Nam đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm không những không thi hành Hiệp định Giơ ne vơ mà còn ra sức đàn áp, khủng bố những người yêu nước bằng Luật 10/1959 với âm mưu đưa quân đội Mỹ vào miền Nam để biến miền Nam thành một thuộc địa kiểu mới và làm bàn đạp tấn công ra miền Bắc.
Trong khi khí thế cách mạng của quần chúng đang lên thì ở nhiều nơi trong tỉnh, bọn phản cách mạng trong giai cấp địa chủ cường hào vừa bị nhân dân ta đánh đổ trong cải cách ruộng đất, bọn phản động lợi dụng đạo Thiên chúa đã tìm cách cấu kết với nhau tuyên truyền xuyên tạc chống phá chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng hợp tác xã đưa người dân vào làm ăn tập thể.
Ở Quảng Trạch, bọn phản động ngấm ngầm tuyên truyền trong giáo dân: “Vào hợp tác xã là mất Chúa”, “Vào hợp tác xã là vào con đường của cộng sản, khi chết không được lên thiên đàng”. Ở Lệ Thủy, bọn phản động trong giai cấp bóc lột cũ tung ra luận điệu: “Vào hợp tác xã là ăn chung, ở chung, của cải đều chung, chung vợ, chung chồng”. Những thủ đoạn tuyên truyền chống phá của bọn phản động đã làm cho một số bà con nông dân mất phương hướng.
Để phá tan âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, Ban cán sự Đảng đã tham mưu, đề xuất lãnh đạo Ty tập trung chỉ đạo các lực lượng nghiệp vụ nắm tình hình, lập hồ sơ từng loại đối tượng cụ thể, tổ chức đấu tranh, trấn áp kịp thời. Đối với số cầm đầu, chủ mưu ta cho đi tập trung cải tạo, số a dua a tòng cho giáo dục cải tạo tại chỗ, củng cố lại niềm tin cho quần chúng về con đường làm ăn tập thể.
Đến cuối năm 1960, toàn tỉnh đã có 58.775 hộ nông dân tự nguyện vào hợp tác xã, chiếm 95% số hộ nông dân.
Công tác cải tạo tư sản, công thương nghiệp cũng đã thu được nhiều kết quả tốt. Đã có 24/32 hộ tư sản ở thị xã Đồng Hới và Ba Đồn (Quảng Trạch) tự nguyện góp vốn thành lập 08 xí nghiệp Công tư hợp doanh với số vốn 267.532 đồng. Hầu hết chị em tiểu thương đã vào các hợp tác xã mua bán, 90,6% số hộ thủ công đã vào các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp[2].
Trong thành tựu của những năm đầu cải tạo xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Quảng Bình không thể không nói đến những đóng góp tích cực của lực lượng Công an, trong đó có vai trò hạt nhân lãnh đạo, giáo dục chính trị tư tưởng của Chi bộ Đảng.
Bước vào năm 1960, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp từ cơ sở đến Trung ương; Ngày 25 tháng 01 năm 1960, Tỉnh ủy Quảng Bình tổ chức Hội nghị bàn về công tác tiến hành Đại hội Đảng ở các huyện, thị xã và các cấp bộ tương đương, chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III.
Một công tác rất quan trọng trong xây dựng Đảng ở thời kỳ này là phát triển đảng viên mới. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chỉ thị về việc tổ chức phát triển đảng viên mới lấy tên là “Lớp 6 – 1” để kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1960). Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Quảng Bình, Chi bộ Đảng của Ty Công an tích cực tạo nguồn để phát triển đảng viên mới.
Cuối quý 1 năm 1960, ĐẠI HỘI CHI BỘ LẦN THỨ V đã được tổ chức. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá kết quả hoạt động, rút ra bài học kinh nghiệm trong nhiệm kỳ (1958 – 1960). Căn cứ vào tình hình chung của cả nước, cả tỉnh và chức năng, nhiệm vụ của ngành Công an trong thời gian tới để đề ra nhiệm vụ lãnh đạo của Chi bộ trong nhiệm kỳ tới, Nghị quyết Đại hội Chi bộ nêu rõ: “Tăng cường hơn nữa công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; chú trọng lãnh đạo và củng cố các đoàn thể quần chúng (đoàn thanh niên, công đoàn), đẩy mạnh các phong trào thi đua tập thể, phát huy sức mạnh đoàn kết của cán bộ, đảng viên trong cơ quan, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn…”.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các lực lượng nghiệp vụ, công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng trong lực lượng CAND Quảng Bình cũng được Đảng ủy các cơ quan Dân Chính Đảng và Tỉnh ủy chú trọng hơn. Nhằm đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo của Đảng trong lực lượng CAND, tháng 6 năm 1960, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình đã có Quyết định thành lập Đảng bộ cơ sở Ty Công an. Tiếp sau đó, Đảng bộ đã tổ chức Đại hội lần thứ nhất để bầu Ban Chấp hành và bầu đại biểu đi dự Đại hội lần thứ III của Đảng bộ Các cơ quan Dân Chính Đảng (6/1960). ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TY CÔNG AN LẦN THỨ NHẤT đã bầu đồng chí: Nguyễn Xuân Tâm, Phó trưởng Ty làm Bí thư Đảng ủy.
Đại hội Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình lần thứ nhất là một dấu mốc lịch sử nói lên sự trưởng thành, phát triển của tổ chức Đảng trong lực lượng Công an Quảng Bình. Từ một Chi bộ khi mới thành lập chỉ có 05 đảng viên, đến thời điểm này (tháng 6 năm 1960) đã phát triển thành Đảng bộ cơ sở có 06 Chi bộ trực thuộc được tổ chức theo từng đơn vị chuyên môn. Toàn Đảng bộ đã có gần 50 đảng viên, chiếm tỷ lệ gần 30% so với biên chế của toàn lực lượng. Đó là nguồn lực to lớn để Đảng bộ nâng cao vai trò lãnh đạo chính trị, tư tưởng của toàn lực lượng trong giai đoạn mới.
Theo: Lịch sử Đảng bộ Công an tỉnh Quảng Bình
[1] Công an nhân dân Quảng Bình – Lịch sử biên niên (1945 – 1975), 2002, tr.150.
[2] Lịch sử Quảng Bình chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), Thường vụ Tỉnh ủy – Đảng ủy – BCHQS tỉnh, 1994, tr.38.





