Những đóng góp của lực lượng Công an Quảng Bình trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

104
Đánh giá bài viết

Lực lượng Công an Quảng Bình vừa công tác, vừa chiến đấu, sẵn sàng chi viện cho An ninh miền Nam, tích cực góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (8/1964 – 4/1975)

Đúng như những nhận định của ta, những ngày cuối tháng 7 và đầu tháng 8 năm 1964, địch liên tiếp tăng cường các hoạt động chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, vây bắt ngư dân trên biển, cho máy bay trinh sát trên địa bàn Quảng Bình suốt cả ngày lẫn đêm.

Ngày 25 tháng 7 năm 1964, tàu biệt kích của Mỹ – ngụy Sài Gòn đã vây bắt 02 thuyền đánh cá của Hợp tác xã Hồng Hà (Bảo Ninh).

Đêm 31 tháng 7 năm 1964, tàu Ma đốc tiến sâu vào vùng biển Quảng Bình, khi qua khu vực Đèo Ngang chúng cho mở hết công suất máy phát sóng điện tử trên tàu hướng vào đất liền để thăm dò việc bố phòng bờ biển của ta.

Đêm 03 tháng 8 năm 1964, được các tàu chiến của Mỹ hỗ trợ, tàu biệt kích của quân ngụy Sài Gòn đã pháo kích vào cửa sông Roòn và khu vực Đèo Ngang.

Ngày 05 tháng 8 năm 1964, sau khi dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay phản lực các loại bất ngờ tấn công các căn cứ, khu trú đậu và lực lượng tàu thuyền của hải quân ta từ Bãi Cháy (Quảng Ninh) đến cửa sông Gianh (Quảng Bình), chính thức mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô ngày càng ác liệt, dã man và tàn bạo.

Với tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, ngay trận đầu ra quân các lực lượng bộ đội phòng không, hải quân, dân quân trực chiến đã kịp thời đánh trả địch quyết liệt, bắn rơi 08 máy bay và bắt sống một số tên giặc lái. Trong ngày hôm đó, quân và dân Quảng Bình đã cùng các lực lượng bộ đội phòng không bắn rơi 03 máy bay và bắn bị thương 01 chiếc khác.

Chiến thắng ngày 05 tháng 8 năm 1964 có một ý nghĩa vô cùng quan trọng nói lên tinh thần cảnh giác cao độ và ý chí quyết tâm bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa của quân và dân ta. Đối với Quảng Bình, chiến thắng ngày 05 tháng 8 năm 1964 đã mở đầu trang sử hào hùng và oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam.

Ngày 24 tháng 02 năm 1965, Bộ Công an ra Chỉ thị về “Công tác phòng không nhân dân trong lực lượng Công an”. Chỉ thị yêu cầu Công an các địa phương khẩn trương củng cố hệ thống thông tin liên lạc, đảm bảo lực lượng sẵn sàng chiến đấu cao; tổ chức thực tập các phương án khi có tình huống máy bay địch đánh phá, điều chuyển ngay 100% nơi có chất nổ, chất cháy ra khỏi thành phố, thị xã; thường xuyên kiểm tra hầm hào phòng tránh trong nhân dân, vận động nhân dân đi sơ tán… Phối hợp các lực lượng nghiệp vụ tiến hành các biện pháp đối với các đối tượng phải điều chuyển và đối tượng “trong diện 69”[1]. Tổ chức tuần tra canh gác bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản và tính mạng của nhân dân, giữ vững an ninh trật tự trong khu vực lúc bình thường cũng như lúc có máy bay địch đánh phá.

Thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, của Ngành, với chức năng lãnh đạo đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, Đảng ủy Ty Công an Quảng Bình đã lấy công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đặt lên hàng đầu nhằm làm cho tất cả cán bộ, đảng viên quán triệt đầy đủ đường lối, quan điểm của Đảng, tạo nên sức mạnh tinh thần, quyết tâm khắc phục, vượt mọi khó khăn hoàn thành các mặt công tác với kết quả và chất lượng cao.

Để phát huy vai trò cơ quan thường trực hướng dẫn công tác phòng không nhân dân, Đảng ủy Ty Công an đã đề xuất Ban lãnh đạo Ty chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tập trung hướng về cơ sở cùng với các ban ngành, đoàn thể mở đợt tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về các quy định phòng không nhân dân. Thông qua công tác tuyên truyền đã làm cho mọi người thấy rõ hơn âm mưu thâm độc của địch, càng nâng cao cảnh giác đề phòng. Khắp nơi trong tỉnh nhân dân tích cực xây dựng hầm hào trú ẩn. Ở thị xã Đồng Hới và những địa bàn xung yếu, nơi công cộng có hệ thống báo động máy bay. Trên các trục đường giao thông liên thôn, liên xã đều có hầm tròn, hầm chữ “L” cho người đi đường trú ẩn. Hầm, hào giao thông được tổ chức thành mạng lưới ở các cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện, trường học và cả ngoài đồng ruộng. Đến đầu năm 1965, toàn tỉnh đã có 900.000 hầm phòng tránh trong các gia đình và 990.000 hầm tròn cá nhân, 8.972 km giao thông hào. Điển hình nhất là huyện Lệ Thủy, địa bàn trọng điểm, xung yếu tiếp giáp với khu vực Vĩnh Linh “bình quân mỗi gia đình trong huyện đã đào đắp được 10 hầm trú ẩn, mỗi lao động có 05 hầm cá nhân và 20 mét giao thông hào. Các trường học, trạm y tế cơ sở vừa xây dựng hầm trú ẩn, vừa làm nhà hầm bao quanh”[2]. Tất cả các địa phương, đơn vị đều có phương án bảo vệ người, hồ sơ, tài liệu, bảo vệ kho tàng khi địch đánh phá. Các lực lượng dân phòng, cứu thương, cứu hỏa, cứu sập hầm, thu gom các loại bom đạn chưa nổ… được thành lập và diễn tập xử lý từng tình huống xảy ra.

Trước nguy cơ phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ bắt đầu đưa quân vào miền Nam Việt Nam và thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” đồng thời tiến hành leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Đúng 12 giờ 30 phút ngày 07 tháng 02 năm 1965 (nhằm ngày 06 tết Ất Tỵ), đế quốc Mỹ đã huy động 160 lượt máy bay các loại bất ngờ mở cuộc đánh phá với quy mô lớn vào thị xã Đồng Hới suốt 04 giờ liền. Với tinh thần cảnh giác cao, các lực lượng phòng không của ta đã kịp thời đánh trả địch quyết liệt, 04 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi tại chỗ, nhiều chiếc khác bị bắn bị thương chuồn ra biển. Trong lúc máy bay địch đang đánh phá, bất chấp mọi hiểm nguy, lực lượng của Ty Công an, Công an thị xã Đồng Hới đã dũng cảm quên mình cùng với các lực lượng dân phòng, bảo vệ dân phố vừa hướng dẫn nhân dân xuống các hầm hào trú ẩn vừa bảo vệ trị an đề phòng kẻ xấu lợi dụng lúc địch đánh phá để trộm cắp, hôi của. Nhờ nắm chắc sơ đồ hầm hào phòng tránh nên các lực lượng Công an, dân phòng đã kịp thời dập tắt nhiều đám cháy, đào bới cứu được hàng chục người bị thương, bị sập hầm.

Tiếp theo đó, 12 giờ ngày 08 tháng 02 năm 1965, đế quốc Mỹ lại huy động 120 lượt máy bay đánh vào thị xã Đồng Hới lần thứ hai và các vùng phụ cận. Đồng thời chúng cũng mở rộng phạm vi đánh phá vào các xã Ngư Thủy, Sen Thủy (Lệ Thủy). Trong ngày hôm đó, các lực lượng phòng không của ta lại ghi tiếp chiến công bắn rơi 03 máy bay Mỹ.

Liên tiếp trong hai ngày 09 và 10 tháng 02 năm 1965, máy bay Mỹ liên tục hoạt động trinh sát trên vùng trời Quảng Bình, Tỉnh ủy nhận định: Địch đang ra sức thăm dò lực lượng bố phòng của ta và chắc chắn chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn trong thời gian sắp tới, các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với địch không để bị động, bất ngờ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban phòng không nhân dân tỉnh và thị xã Đồng Hới, sự hướng dẫn của chính quyền cơ sở và các lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trị an và sự phối hợp của các lực lượng khác, chỉ trong vòng hơn 04 tiếng đồng hồ, gần một vạn dân thị xã cùng với cán bộ, nhân viên của 40 cơ quan, đơn vị của tỉnh và thị xã đã sơ tán ra khỏi thị xã Đồng Hới trước lúc trời sáng. Đây là đợt sơ tán có quy mô lớn nhất, nhanh gọn nhất và đảm bảo trật tự an toàn nhất.

Ngày 11 tháng 02 năm 1965, đế quốc Mỹ lại tiếp tục cho máy bay đánh phá thị xã Đồng Hới lần thứ ba.

Một sự kiện đáng ghi nhớ của Đảng bộ Công an Quảng Bình trong ngày hôm đó là lưới lửa phòng không của ta đã bắn cháy một chiếc máy bay phản lực F8U, tên giặc lái thiếu tá Rô bớt Su mêch cơ đã nhảy dù xuống vùng đồi của xã Lý Ninh (nay là Phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới). Tham gia cuộc vây bắt giặc lái Mỹ hôm đó, lực lượng Công an Quảng Bình ngoài ban Công an xã Lý Ninh còn có các đồng chí: Phạm Xuân Tánh, Thiếu úy, Chi ủy viên của Chi bộ phòng Cảnh sát nhân dân (PK57), Trần Đình Đản, đảng viên Chi bộ phòng Bảo vệ chính trị (PK61) đều đang làm công tác ở xã Lý Ninh, đã cùng các lực lượng lần đầu bắt sống giặc lái Mỹ.

Trong những ngày đầu đọ sức với máy bay Mỹ, lực lượng Công an Quảng Bình đã xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm, kiên cường được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân khen ngợi, tiêu biểu là các đồng chí: Nguyễn Thừa, Trần Ngọc Sanh, Nguyễn Ngọc Thiết, Ngô Hồng Dân, Huỳnh Thanh, Hoàng Xuân Thịnh… đã dũng cảm lao vào lửa đạn cứu người bị thương, bị sập hầm, cứu tài sản Nhà nước và của nhân dân.

Chiến thắng trong những trận đầu của quân và dân Quảng Bình đã làm nức lòng quân dân cả nước. Đặc biệt là ngày 14 tháng 02 năm 1965, Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Trong thư, Người căn dặn: “Đế quốc Mỹ và tay sai còn nhiều âm mưu hung ác, quân và dân ta phải tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, giặc đến là đánh, đánh là phải thắng”[3].

Khắc sâu lời dạy của Bác, cán bộ, đảng viên Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình càng hăng hái thi đua đẩy mạnh các mặt công tác bảo vệ trị an và sẵn sàng bước vào những trận chiến đấu mới với nhiều gian khổ, ác liệt hơn…

Ngày 15 tháng 12 năm 1965, Bộ Công an có điện mật thông báo cho Bộ Tư lệnh CANDVT và Ty Công an Quảng Bình: có một toán gián điệp biệt kích đã xuống hoạt động ở vùng miền Tây huyện Lệ Thủy. Ty Công an Quảng Bình cần tổ chức truy tìm và tiêu diệt. Cùng với điện thông báo, Bộ Công an và Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh CANDVT đã cử cán bộ vào Quảng Bình trực tiếp chỉ đạo tiến hành cuộc truy tìm địch. Phương châm chỉ đạo của Bộ Công an trong vụ án này là đánh nhưng không động, để còn phục vụ đánh địch lâu dài.

Ngay sau khi nhận được thông báo của Bộ Công an, Đảng ủy Công an thống nhất tỉnh Quảng Bình đã có cuộc họp đột xuất để bàn phương án tổ chức truy tìm toán gián điệp biệt kích nói trên. Đảng ủy thống nhất lập Chuyên án truy tìm lấy bí số “Chuyên án TK65” và cử đồng chí Thiếu tá Trần Kim Giá, Phó Bí thư Đảng ủy Công an thống nhất, Chính ủy CANDVT tỉnh, làm Trưởng ban chuyên án.

Bằng các biện pháp nghiệp vụ kết hợp với phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, sau tròn 01 tháng đấu tranh, “Chuyên án TK65” đã kết thúc thắng lợi.

Toàn bộ toán gián điệp biệt kích mang mật danh “ROMEO” gồm 15 tên cùng toàn bộ trang bị vũ khí, điện đài đã bị ta bắt gọn. Một lần nữa, âm mưu của Mỹ – ngụy Sài Gòn tung gián điệp biệt kích ra phá hoại hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam đã bị quân dân ta đánh bại.

Ngày 07 tháng 3 năm 1966, Bộ Công an thông báo cho Công an Quảng Bình và Hà Tĩnh biết có một toán gián điệp biệt kích đã xâm nhập xuống vùng rừng núi giáp ranh giữa hai tỉnh. Bộ yêu cầu Công an Quảng Bình và Hà Tĩnh phải nhanh chóng tổ chức truy tìm nơi ẩn nấp và hoạt động của chúng, bắt gọn cả toán để phục vụ đánh địch lâu dài. Phải tuyệt đối giữ bí mật từ đầu đến khi kết thúc trận đánh.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Công an, Đảng ủy Công an thống nhất của tỉnh Quảng Bình khẩn trương triệu tập cuộc họp khẩn cấp thành lập Ban chỉ đạo đánh án do đồng chí Nguyễn Thanh Phong, Bí thư Đảng ủy Công an Thống nhất, Trưởng Ty Công an làm Trưởng ban, đồng chí Thiếu tá Trần Kim Giá, Phó Bí thư Đảng ủy Công an thống nhất, Chính ủy CANDVT tỉnh làm Phó trưởng ban trực tiếp chỉ huy các lực lượng truy tìm địch. Qua xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp, kết hợp các biện pháp trinh sát kỹ thuật của Bộ Công an,  Ban chỉ đạo chuyên án đã xác định được khu vực địch ẩn nấp hoạt động thuộc vùng Lèn Tinh, xã Hóa Sơn (Minh Hóa, Quảng Bình).

Sau gần ba tháng truy lùng ráo riết, toàn bộ toán gián điệp biệt kích có mật danh “KERN” xâm nhập vùng rừng núi giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Bình – Hà Tĩnh đã bị xóa sổ hoàn toàn. Trong trận chiến đấu này, đồng chí Hạ sĩ Nông Minh Hoạt, CANDVT Quảng Bình đã anh dũng hy sinh, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước truy tặng Huân chương chiến công hạng Hai.

Cả năm 1966, Mỹ – ngụy Sài gòn đã tung ra địa bàn Quảng Bình 09 toán gián điệp biệt kích; trong đó có 04 toán nhảy dù xuống khu vực biên phòng tuyến núi. Ta đã tiêu diệt và bắt sống 45 tên, thu 10 tấn trang bị vũ khí, điện đài, lương thực…[4]. Có được những kết quả đó chính là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ kịp thời của Bộ Công an, của Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình mà trực tiếp là Đảng ủy Công an Thống nhất của tỉnh và sự phấn đấu không ngừng của mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn lực lượng CAND và CANDVT của tỉnh cùng với sự phối hợp hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, kịp thời của các lực lượng quân sự địa phương và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi quân, dân cả nước nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nhận định: “Chiến tranh có thể kéo dài 05 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”[5].

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn quân, toàn dân ta vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược.

Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Bác, Đảng ủy Công an thống nhất chỉ đạo Đảng bộ Ty Công an và Đảng bộ CANDVT tỉnh, tập trung lãnh đạo cấp ủy, chỉ huy các đơn vị tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức chính trị làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Từ đó, xác định tư tưởng dù gian khổ, ác liệt đến đâu cũng kiên trì, quyết tâm bám sát địa bàn, trận địa chiến đấu.

Những năm 1967, 1968, bọn Mỹ – ngụy Sài Gòn vẫn tiếp tục tung các toán gián điệp biệt kích xâm nhập địa bàn Quảng Bình với phương thức tổ chức, trang bị, thủ đoạn hoạt động có nhiều thay đổi ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn như: thời gian hoạt động ngắn hơn, sử dụng máy bay lên thẳng để tận dụng yếu tố cơ động cao hơn; cho bọn gián điệp biệt kích nhảy dù xuống các khu vực ngoại biên Việt – Lào để đánh lạc hướng của ta, từ đất Lào chúng cải trang theo kiểu bộ đội ta để xâm nhập vào Việt Nam hoạt động… Nhưng dù kẻ địch có âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến đâu chúng cũng không qua được mạng lưới cảnh giác “thiên la địa võng” của nhân dân và các lực lượng Công an Quảng Bình. Từ năm 1965 đến cuối năm 1968, ta đã phát hiện 21 vụ gián điệp biệt kích xâm nhập, tiêu diệt và bắt sống 132 tên, thu hàng chục tấn vũ khí, trang bị. Trong đó có 06 chuyên án đánh địch lâu dài, giành được nhiều thắng lợi.

Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, lực lượng CSND tích cực đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự và các tai, tệ nạn xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản, nhất là công tác xây dựng mạng lưới cơ sở bí mật để phục vụ yêu cầu quản lý chặt chẽ các loại đối tượng đã được chú ý hơn. Trên các tuyến giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, nơi có kho tàng, bến bãi của các Binh trạm như Thuận Bài (Quảng Trạch), Khương Hà (Bố Trạch), Nam Long (Quảng Ninh), Vùng Bang (Lệ Thủy)… đều có lực lượng trinh sát hình sự bám sát địa bàn kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hiện tượng tham ô, trộm cắp nên hàng hóa chi viện cho chiến trường được bảo vệ an toàn.

Đi đôi với các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ, công tác phòng ngừa xã hội cũng được hết sức coi trọng, các lực lượng nghiệp vụ của Ty đã tích cực hướng dẫn Công an các huyện, thị tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương bổ sung thêm những nội dung mới của phong trào quần chúng “Bảo vệ trị an”. Những khẩu hiệu: “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Cho không lấy, thấy không xin, của công giữ gìn, của rơi trả lại”… được phát động học tập sâu rộng trong nhân dân đã làm dấy lên trong lòng mỗi người dân Quảng Bình một tình cảm thiêng liêng “Tất cả vì miền Nam thân yêu, vì Trị Thiên ruột thịt”.

Có thể nói ác liệt hơn tất cả là trên mặt trận bảo vệ trật tự an toàn giao thông phục vụ chi viện cho chiến trường. Những cán bộ, đảng viên các Tổ đảng Cảnh sát giao thông thuộc Chi bộ Phòng Cảnh sát nhân dân Ty Công an Quảng Bình đã ngày đêm vững vàng bám trụ ở những mục tiêu quan trọng như các bến phà: Roòn, sông Gianh, Quán Hàu, Long Đại, Xuân Sơn, các vùng kho lớn như Khương Hà, Tân Ấp, Vĩnh Tuy, Nam Long… để làm nhiệm vụ hướng dẫn giao thông, bảo vệ hàng hóa, vật tư tài sản Nhà nước. Ở đâu có xe qua, có bom nổ thì ở đó đều có mặt lực lượng Cảnh sát giao thông tham gia cứu người, cứu xe, cứu hàng, bất chấp mọi hiểm nguy…

Với quyết tâm giữ vững an ninh trật tự, tích cực góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, toàn lực lượng Công an Quảng Bình đã không quản ngại gian khổ, hy sinh ngày đêm bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình các loại đối tượng chính trị, hình sự, tổ chức điều tra, khám phá kịp thời 100% các vụ việc xảy ra có liên quan đến an ninh trật tự. Điển hình nhất ở thời điểm này là vụ trọng án giết người do Nguyễn Văn Liêu, Phó trưởng phòng lương thực của huyện Quảng Trạch gây ra làm xôn xao dư luận. Mặc dù phương tiện nghiệp vụ lúc này còn rất thô sơ, hiện trường vụ án bị xáo trộn, nhưng với quyết tâm và kinh nghiệm điều tra của lực lượng phá án, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã có đầy đủ chứng cứ bắt Nguyễn Văn Liêu, chính là thủ phạm gây ra vụ án giết người rất dã man[6]. Vụ án được làm sáng tỏ đã giải tỏa được mọi nghi ngờ đồn đoán trong nhân dân, củng cố thêm niềm tin của quần chúng đối với lực lượng CAND và sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Đi đôi với công tác bảo vệ mạch máu giao thông là công tác bảo vệ tài sản Nhà nước, vật tư hàng hóa chi viện cho chiến trường. Để làm tốt công tác này, Đảng ủy và lãnh đạo Ty Công an đã chỉ đạo các lực lượng nghiệp vụ, Công an các huyện, thị tham mưu đề xuất các cấp ủy Đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, ban ngành tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa trong toàn Đảng, toàn dân. Công an tỉnh, Công an các huyện đã mở nhiều hội nghị liên tịch với các ngành, các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong để bàn các biện pháp thống nhất về xây dựng các phương án bảo vệ người, phương tiện, kho tàng, hàng hóa. Tổ chức phối hợp tuần tra, kiểm soát ở những địa bàn trọng điểm.

Khắp nơi trong tỉnh phong trào quần chúng “Bảo vệ trị an” ở ngoài xã hội được kết hợp chặt chẽ với phong trào “Bảo mật phòng gian” ở trong nội bộ các cơ quan, xí nghiệp, công, nông, lâm trường, các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong. Và cũng từ đó đã hình thành nên một nguyên tắc bảo vệ tài sản Nhà nước: “Cấp ủy là chủ hàng, nhà dân là kho hàng, chủ nhà là thủ kho, dân quân là lực lượng bốc vác, Công an là lực lượng bảo vệ”. Nhân dân ở các xã trên các tuyến giao thông đường bộ, đường sông đã tự nguyện nhường nhà ở của gia đình, nhà thờ họ tộc, nhà kho của hợp tác xã để làm kho chứa hàng của Nhà nước. Trong những tháng ngày đạn bom ác liệt, đâu đâu cũng ngân vang tiếng hát át tiếng bom:

“Hàng ta, ta quý ta yêu,

Hàng ra tiền tuyến, hàng tiêu diệt thù”.

Nhờ vậy mà tất cả hàng hóa, vật tư, tài sản Nhà nước gửi vào nhân dân đều được bảo vệ an toàn. Bên cạnh công tác giáo dục, phòng ngừa xã hội, các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ cũng được triển khai tích cực. Mạng lưới đặc tình, cơ sở bí mật đã có tác dụng giúp cho công tác điều tra, kết luận nhanh chóng những vụ xâm phạm tài sản Nhà nước và của tập thể xảy ra, góp phần bảo vệ mọi nguồn lực của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Không thể ngăn chặn được sự chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam bằng sự tàn phá của bom đạn, bọn Mỹ – ngụy Sài Gòn lại tiếp tục tung các tuyến gián điệp biệt kích ra Quảng Bình hoạt động thu thập tin tức tình báo, phá hoại.

Tháng 8 năm 1968, khi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ chỉ tập trung vào phương thức đánh phá bằng không quân và hải quân, chấm dứt việc tung gián điệp biệt kích thì nhiệm vụ chính trị tình thế của “Đảng ủy Công an thống nhất” cũng được kết thúc bằng Quyết định giải thể của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc và dư luận thế giới lên án mạnh mẽ, ngày 01 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom bắn phá nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa bằng không quân, hải quân để tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất đối với miền Bắc đến đây kết thúc.

Sau hơn 04 năm chiến đấu anh dũng ngoan cường, quân và dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, giáng một đòn nặng nề vào ý chí xâm lược hiếu chiến của chúng. Cùng với Đảng bộ và quân dân toàn tỉnh, Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình đã bám sát chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Ngành trong từng thời gian cụ thể để làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức động viên phong trào thi đua trong toàn lực lượng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và Ngành giao phó.

Để tăng cường bảo vệ miền Bắc, tiếp tục chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, ngày 03 tháng 11 năm 1968, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Chúng ta đã đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói “hòa bình, thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng… Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”[7].

Những năm 1969, 1970, tình hình an ninh trật tự có rất nhiều diễn biến phức tạp nhất là ở các địa bàn có các Trại thương binh, Đoàn an dưỡng của cán bộ, bộ đội chiến đấu ở miền Nam ra, ở Lào về. Ở một vài nơi, thương binh chặn đường bắt lái xe, tước vũ khí của quân cảnh, Cảnh sát giao thông, gây rối trật tự công cộng, đòi hỏi yêu sách vô lý…

Ngày 31 tháng 01 năm 1971, được một vạn quân Mỹ yểm trợ, chính quyền ngụy Sài Gòn huy động hơn ba vạn quân mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” tiến đánh đường 9 – Nam Lào.

16 giờ ngày 06 tháng 02 năm 1971, một đoàn xe quân sự kéo pháo vào chiến trường, khi xe vừa đến ngã ba đường 10 thì bị máy bay địch phát hiện chặn đánh. Trong lúc các xe lái đang lúng túng chưa biết phân tán theo hướng nào thì các chiến sĩ Cảnh sát giao thông đồn 84 Công an Quảng Bình đã kịp thời có mặt, 04 chiến sĩ Công an chia làm 04 hướng dẫn đoàn xe gồm 60 chiếc sơ tán an toàn. Bị mất mục tiêu, máy bay địch điên cuồng lồng lộn trút bom đánh phá con đường. Ngay trong đêm hôm đó, anh em Công an đồn 84 lại cùng các lực lượng đảm bảo giao thông san lấp hố bom kịp thời thông đường cho đoàn xe kéo pháo tiếp tục hành quân vào mặt trận.

Việc giải cứu đoàn xe kéo pháo ngày 06 tháng 02 năm 1971, không chỉ nói lên tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Công an Quảng Bình trong việc bảo vệ các hoạt động quân sự mà còn nói lên sự hiệp đồng chặt chẽ giữa hai lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, một nhân tố hết sức quan trọng, một bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của mỗi bên.

Ngày 05 tháng 4 năm 1972, Bộ Công an ra Chỉ thị số 54-TH về “Động viên cán bộ, chiến sĩ toàn ngành trước tình hình mới”. Sau khi nêu rõ tình hình cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam, Bắc, thời cơ của ta để đập tan chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, Chỉ thị nêu rõ yêu cầu: “Cán bộ, chiến sĩ CAND miền Bắc dù ở bất kỳ cương vị nào, sẵn sàng mọi mặt để khi có lệnh là lên đường ra tiền tuyến”.

Thực hiện Chỉ thị số 54 của Bộ trưởng Bộ Công an, Đảng đoàn Ty Công an Quảng Bình đã cùng với Thường vụ Đảng ủy và lãnh đạo Ty chỉ đạo các chi bộ, các đơn vị nghiệp vụ và Ban chấp hành các đoàn thể (Thanh niên, Phụ nữ) trong lực lượng tổ chức quán triệt sâu sắc Chỉ thị của Bộ trên cơ sở đó liên hệ với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình để có kế hoạch đẩy mạnh các mặt công tác được nêu trong Chỉ thị của Bộ. Đồng thời, các chi bộ cần làm tốt công tác chính trị tư tưởng, lựa chọn những cán bộ, đảng viên có đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của Bộ để sẵn sàng lên đường chi viện cho lực lượng an ninh miền Nam[8].

Ngày 15 tháng 01 năm 1973, chiến dịch Hòn La kết thúc, 21 ngàn tấn gạo đã được chuyển tiếp vào chiến trường. Kết quả này là cả một sự đóng góp hy sinh xương máu của quân và dân Quảng Bình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở giai đoạn quyết liệt nhất; trong đó có sự đóng góp xứng đáng của những cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Ty Công an tham gia bảo vệ chiến dịch.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (11/1968 – 1/1973), đế quốc Mỹ đã không từ một thủ đoạn đánh phá dã man, tàn ác nào đối với nhân dân ta. Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã liều lĩnh mở cuộc tập kích chiến lược bằng B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng, song chúng đã bị quân và dân ta dũng cảm, ngoan cường đánh trả làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” đập tan âm mưu đen tối của kẻ thù. Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng bắn phá từ Bắc vĩ tuyến 20, chấp nhận trở lại Hội nghị Pari để tiếp tục đàm phán với ta.

Lợi dụng khoảng thời gian còn lại, địch đã dùng hết khả năng bom đạn đánh phá dữ dội từ Nam vĩ tuyến 20 trở vào.

Ở Quảng Bình, chỉ trong 15 ngày đầu tháng 01 năm 1973, đế quốc Mỹ đã huy động 784 lần chiếc máy bay phản lực, 165 lần chiếc máy bay B52 bắn phá hầu hết các mục tiêu trên đất Quảng Bình. Tàu chiến Mỹ pháo kích 14 trận, bắn 1.741 quả đạn pháo lớn vào các địa bàn trong tỉnh.

Đế quốc Mỹ đã leo đến bậc thang cuối cùng của sự dã man, tàn bạo nhưng không thể khuất phục được ý chí và quyết tâm chiến đấu đến cùng của dân tộc Việt Nam vì chân lý: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”.

Ngày 15 tháng 01 năm 1973, Chính phủ Mỹ tuyên bố “ngừng mọi hoạt động quân sự tấn công bao gồm ném bom, bắn trọng pháo và thả mìn” trên toàn miền Bắc Việt Nam.

Ngày 27 tháng 01 năm 1973, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết tại Pari. Đây là một thắng lợi vô cùng to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc sau gần 20 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược vô cùng gian khổ và oanh liệt. Đế quốc Mỹ “cuốn cờ” cay đắng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bước qua một giai đoạn mới, nhiệm vụ quan trọng “Đánh cho Mỹ cút” được Bác Hồ kính yêu giao phó đến đây đã hoàn thành.

Mặc dù phải chấp nhận thất bại và rút hết quân viễn chinh về nước nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Chúng vẫn tiếp tục duy trì nuôi dưỡng bộ máy chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Để thực hiện thắng lợi trọn vẹn nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân và dân Quảng Bình phải tiếp tục cùng quân, dân cả nước ra sức củng cố hậu phương vững mạnh, làm tốt hơn nữa sứ mệnh lịch sử của tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của tiền tuyến anh hùng.

Đi đôi với việc sắp xếp lại tổ chức, chuyển ý chí chiến đấu từ thời chiến qua thời bình, Đảng ủy và lãnh đạo Ty chỉ đạo các đơn vị chuyển mọi sinh hoạt từ nhà hầm lên mặt đất và di chuyển các đơn vị sơ tán ở xa về xung quanh vùng Cộn, Xóm Lòi (xã Nghĩa Ninh).

Vừa xây dựng nơi ăn ở, làm việc, các đơn vị vừa tập trung thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo chỉ đạo của Bộ Công an. Nhiệm vụ chung của lực lượng Công an lúc này là: “Khẩn trương và kiên quyết đánh bại chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, âm mưu diễn biến hòa bình của địch, ngăn chặn và trấn áp kịp thời mọi âm mưu và hành động phá hoại của bọn phản cách mạng, bảo vệ tốt công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, đấu tranh làm giảm hẳn các loại trọng án, các tai nạn, xóa bỏ các tệ nạn xã hội, tích cực chi viện cho an ninh miền Nam, phục vụ tốt việc thi hành Hiệp định Pari, đưa cách mạng tiến lên không ngừng”[9].

Trên mặt trận phản gián, các đơn vị nghiệp vụ có liên quan đã khẩn trương kết hợp cùng với lực lượng Anh ninh Quảng Trị tổ chức khai thác các loại hồ sơ, tài liệu của địch do ta thu được trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, lên danh sách các loại đối tượng ngụy quân, ngụy quyền, gián điệp, tình báo, đảng phái phản động có quê ở Quảng Bình để phục vụ cho công tác nghiên cứu đánh địch trước mắt cũng như lâu dài. Phối hợp cùng các đơn vị Quân đội và các ngành liên quan có kế hoạch đón tiếp, bảo vệ hơn 23.230 người thuộc diện “Những người chiến thắng trở về”[10]. Qua đó để xác minh, làm rõ được nhiều trường hợp có quê ở Quảng Bình tham gia chiến đấu ở các chiến trường B, C bị địch bắt hoặc bị mất tích, lạc ngũ nhằm chủ động đối phó với âm mưu cài cắm cơ sở của địch vào nội bộ ta, đặc biệt là các đối tượng được địch tung ra miền Bắc dưới dạng “P86”.

Cùng với các mặt công tác bảo vệ an ninh chính trị, công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong những tháng đầu, năm đầu hòa bình lập lại diễn ra rất phức tạp. Một số loại tội phạm trong những chiến tranh ác liệt không xảy ra, nhưng khi hòa bình vừa lập lại đã xuất hiện ở nhiều nơi, như giết người, cướp của, lừa đảo, sử dụng bom mìn, chất nổ, chất cháy gây hậu quả nghiêm trọng[11].

Trước tình hình đó, Đảng đoàn và lãnh đạo Ty Công an đã chỉ đạo các lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát quản lý hành chính về trị an vừa đẩy mạnh các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản, vừa tập trung điều tra, xử lý các vụ việc xảy ra có liên quan đến hoạt động của các loại tội phạm hình sự. Điển hình nhất là việc tổ chức điều tra, khám phá các vụ trọng án xảy ra trong thời gian này như vụ án  Trương Văn Quyền ở xã Cam Thủy (Lệ Thủy) giết đồng chí Nguyễn Văn Màng, cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy rồi chôn xác ngay trong vườn nhà vào đêm 29 Tết Quý Sửu (1973). Đây là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận trong cả tỉnh lúc bấy giờ. Tiếp theo đó là vụ án Phan Hồng Khanh, xã Lê Hóa (Tuyên Hóa) giết hai chị em gái ở Khe Cạn thuộc xã Đồng Hóa (tháng 3/1973)… Tất cả các vụ án lớn xảy ra trong thời gian này đã được lực lượng Công an tập trung điều tra, khám phá đưa các đối tượng gây án ra ánh sáng pháp luật trừng trị nghiêm minh.

Để tăng cường công tác bảo vệ tài sản Nhà nước trong tuyến giao thông đường thủy nội địa, giữa tháng 4 năm 1973, Ty Công an Quảng Bình đã cho thành lập đồn Công an cảng Nhật Lệ, do đồng chí Võ Trụ làm Trưởng đồn, đồng chí Nguyễn Trường Tộ làm Phó trưởng đồn kiêm Bí thư chi bộ lâm thời. Về tổ chức, đồn Nhật Lệ tương đương như một đơn vị cấp phòng, trực thuộc lãnh đạo Ty.

Để tiếp tới Đại hội đại biểu Đảng bộ các cơ quan Dân, Chính, Đảng lần thứ VII, cuối tháng 11 năm 1974, Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình đã tổ chức ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ IV. Đại hội đã tập trung đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng trong năm vừa qua, rút ra những mặt làm được và những mặt còn hạn chế, khuyết điểm, những bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới gồm 09 đồng chí, Ban Thường vụ có 03 đồng chí. Đồng chí Trần Đình Luyến, Phó trưởng Ty phụ trách Xây dựng lực lượng, Hậu cần được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đồng chí Trần Quang Nọng, Trưởng phòng Chính trị được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy.

Sau tết Ất Mão (1975), tình hình chiến sự ngày càng trở nên sôi động. Tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam dồn dập chuyển về miền Bắc: Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta nổ súng tấn công thị xã Buôn Mê Thuột, mở đầu cho chiến dịch giải phóng miền Nam. Tiếp theo đó là các chiến dịch giải phóng  Huế (26/3), Đà Nẵng (29/3). Quân ta thắng lớn và tiếp tục hành quân thần tốc giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung.

Để có lực lượng tiếp quản và bảo vệ an ninh trật tự những vùng mới được giải phóng, trong những ngày này, Bộ Công an đã liên tục huy động hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Công an các tỉnh, thành miền Bắc lên đường chi viện cho lực lượng an ninh miền Nam. Nhờ có chủ động làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng nên trong lực lượng Công an Quảng Bình đã có hàng trăm cán bộ, đảng viên, chiến sĩ làm đơn tình nguyện xung phong lên đường vào Nam chiến đấu. Trong đợt này đã có trên 50 cán bộ, đảng viên được chọn đi đợt đầu vào các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định dồn hết toàn lực mở chiến dịch cuối cùng để rút ngắn thời gian giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau một thời gian chiến đấu quyết liệt, đập tan các tuyến phòng ngự của địch, năm cánh quân chủ lực của ta đã phối hợp cùng với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Sài Gòn – Gia Định tiến công như vũ bão vào sào huyệt cuối cùng của địch, bắt Tổng thống Dương Văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta kết thức thắng lợi.

Cùng với quân dân cả nước, cả tỉnh, cán bộ, đảng viên Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình đón chào thắng lợi lịch sử trong niềm vui sướng, xúc động, tự hào. Từ nay trên đất nước Việt Nam thân yêu đã sạch bóng quân xâm lược, đất nước hòa bình, thống nhất, giang sơn thu về một mối, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, tự do.

Cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự trong giai đoạn (8/1964 – 4/1975) đã diễn ra trong điều kiện cả nước có chiến tranh, Quảng Bình là tỉnh hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam. Mọi sức người, sức của chi viện cho chiến trường đều qua đất Quảng Bình. Vì vậy, cùng với các hoạt động chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, kẻ địch đã không từ một thủ đoạn đánh phá dã man, tàn ác nào. Cùng với Đảng  bộ và quân, dân trong tỉnh dũng cảm, kiên cường đứng vững nơi tuyến đầu ác liệt, lực lượng Công an Quảng Bình nói chung và Đảng bộ Ty Công an nói riêng đã không ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn trong mọi tình huống. Cùng với sự trưởng thành của toàn lực lượng, Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình cũng đã không ngừng phát triển đi lên cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, luôn luôn phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo thúc đẩy toàn lực lượng góp phần tích cực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi. Phát huy thành tích của 10 năm qua, Đảng bộ Ty Công an Quảng Bình cùng với toàn lực lượng và quân dân trong tỉnh phấn khởi bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ hòa bình, độc lập, tự do, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Theo: Lịch sử Đảng bộ Công an tỉnh Quảng Bình

[1] “Diện 69” là các phần tử xét thấy có nguy hại đến an ninh xã hội khi có chiến tranh xảy ra được quy định trong Chỉ thị số 69-VP/P4 ngày 14/12/1960 của Bộ Công an về “Chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu gây chiến của Mỹ – Diệm”.

[2] Lịch sử Đảng bộ huyện Lệ Thủy, tập 2 (1954 – 1975), tr.145.

[3] Quảng Bình ơn Bác, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng và Ty Văn hóa Quảng Bình, 1975.

[4] Nguồn tài liệu:

Lịch sử CAND Quảng Bình, tập I (1945 – 1975), sđd, tr.181, 182.

Lịch sử Bộ đội Biên phòng Quảng Bình, tập I (1959 – 1995), sđd, tr.168, 169.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.131.

[6] Do có quan hệ tình ái bất chính với một phụ nữ trong cơ quan, Liêu đã tìm cách giết vợ bằng thủ đoạn bóp cổ vợ đến chết rồi đẩy xuống một giếng hoang để tạo ra hiện trường giả. Năm 1968, vụ án được đưa ra xét xử, Nguyễn Văn Liêu bị Tòa tuyên mức án tử hình.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.407.

[8] Tháng 5/1972, Công an Quảng Bình đã cử các đồng chí: Nguyễn Hữu Trường, Đinh Xuân Tri, Trần Duy Thiết, Nguyễn Ngọc Pha, Nguyễn Minh Cữ đều là đảng viên thuộc Đảng bộ Ty Công an lên đường chi viện cho Ban an ninh Trị Thiên – Huế.

[9] Trích Chỉ thị số 132/CT-KC1 ngày 28/1/1973 của Bộ trưởng Bộ Công an.

[10] “Những người chiến thắng trở về” là tên gọi chung cho tất cả những cán bộ, bộ đội, thanh niên xung phong chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường bị địch bắt, được trao trả theo Hiệp định Pari.

[11] Điển hình nhất là vụ Nguyễn Công Hoan ở Đoàn văn công Quảng Bình do yêu đương bất chính và mâu thuẫn với đơn vị đã dùng súng và lựu đạn giết một lúc 10 người, làm 07 người khác bị thương, nhân dân phát hiện đã dùng vũ khí chống trả quyết liệt để chạy thoát.