Những đóng góp của lực lượng Công an Quảng Bình trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

90
Đánh giá bài viết

Lực lượng Công an Quảng Bình đảm bảo an ninh trật tự vùng mới giải phóng

Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Hiệp định Giơ ne vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương đã được ký kết. Đó là thắng lợi chung của nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia anh em, mở ra một giai đoạn mới: Hòa bình, Độc lập, Tự do cho mỗi nước. Đối với Việt Nam, do tương quan lực lượng giữa ta và địch, do tình hình chính trị của thế giới lúc bấy giờ còn nhiều phức tạp, vì vậy nước ta phải tạm thời chia thành hai miền. Cầu Hiền Lương – sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nằm trên vĩ tuyến 17 được lấy làm giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng chuyển qua cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Nam tạm thời do đối phương kiểm soát, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước nhà vào tháng 7 năm 1956.

Quảng Bình bắt đầu đi vào khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân từ trên “đống tro tàn” của chiến tranh để lại. Những hệ thống đồn bốt, hầm hào dây kẽm gai, những bãi bom mìn còn ngổn ngang đây đó. Nhiều xóm thôn trù phú đã bị thực dân Pháp biến thành những vành đai trắng hoang tàn.

Ngày 06 tháng 8 năm 1954, Tỉnh ủy Quảng Bình đã triệu tập hội nghị bất thường để đánh giá các mặt công tác ổn định an ninh trật tự, kinh tế xã hội trong những ngày đầu hòa bình lập lại. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt cần phải tiến hành là:

– Ra sức tranh thủ nhân dân, đoàn kết mọi tầng lớp quần chúng để chống lại âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép dân vào vùng tạm đóng quân của địch.

– Thực hiện đúng Hiệp định đình chiến. Lãnh đạo quần chúng đấu tranh mạnh mẽ, buộc địch phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ ne vơ.

– Tổ chức, lãnh đạo học tập tinh thần nhiệm vụ mới, làm cho cán bộ, đảng viên tin tưởng và tạo nên sự nhất trí trong nội bộ Đảng để thực hiện thắng lợi mọi mặt công tác[1].

Nhờ có được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Đảng ủy các cơ quan cấp tỉnh, sự chỉ đạo thường xuyên của Sở Công an Liên khu IV và luôn được Chi bộ tổ chức học tập chính trị, thời sự, chính sách kết hợp với phong trào thi đua thực hiện 06 Điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân nên tất cả đảng viên trong Chi bộ đều giữ vững quan điểm lập trường giai cấp, vững vàng kiên định về tư tưởng, gương mẫu đi đầu trong những nhiệm vụ mới được đặt ra.

Nhiệm vụ chính trị của Chi bộ đảng cũng như của toàn lực lượng Công an Quảng Bình lúc này được đặt ra hết sức nặng nề và vô cùng khẩn trương. Phải nhanh chóng ổn định tình hình an ninh trật tự, bảo vệ các cơ sở phục vụ dân sinh như nhà máy nước, nhà máy điện, bảo vệ tuyệt đối an toàn các cuộc mít tinh kỷ niệm các ngày lễ lớn và chào mừng quê hương vừa được giải phóng diễn ra ở nhiều nơi trong tỉnh.

Cùng với Ủy ban Quân chính thị xã Đồng Hới và Ủy ban Kháng chiến – Hành chính các địa phương tổ chức đăng ký trình diện cho các loại ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái; đăng ký quản lý và thu hồi vũ khí, chất nổ; tổ chức lực lượng phối hợp cùng các ngành, các cấp đấu tranh phá tan âm mưu địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam. Đặc biệt là chống âm mưu địch lợi dụng thời gian hai bên chuyển quân để cài cắm gián điệp hoạt động chống phá ta lâu dài.

Nhờ có kế hoạch chủ động và sự tích cực, gương mẫu đi đầu của các đồng chí đảng viên, sự giúp đỡ của nhân dân nên tại địa bàn thị xã Đồng Hới trong mấy ngày đầu tình hình có phức tạp nhưng ta đã kiên quyết trấn áp kịp thời những tên phản cách mạng hiện hành, bọn lưu manh, côn đồ quấy rối, truy bắt những đối tượng nguy hiểm còn lẩn trốn nên an ninh trật tự đã được thiết lập ngay. Hầu hết số ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái ở lại thị xã Đồng Hới và vùng mới giải phóng của các huyện đã tự giác ra trình diện, nộp vũ khí, khai báo lý lịch, tội lỗi đối với cách mạng. Vận dụng và thực hiện nghiêm chỉnh 08 chính sách của Chính phủ đối với vùng mới giải phóng[2] ta đã phân loại và có đối sách phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể, tạo điều kiện để họ sửa chữa lỗi lầm trở thành người có ích cho xã hội[3].

Đi đôi với việc tổ chức cho các loại ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái trình diện, công tác thu hồi vũ khí, chất nổ đã được triển khai hết sức khẩn trương. Dựa vào bản Điều lệ tạm thời số 392/TTg ngày 17 tháng 9 năm 1954 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý vũ khí, cấp ủy và lãnh đạo Ty Công an đã kịp thời tham mưu, đề xuất Ủy ban hành chính tỉnh có văn bản hướng dẫn các cấp, các ngành tổ chức phát động một đợt thu nộp vũ khí, vật liệu nổ trên địa bàn toàn tỉnh. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã thu được 186 khẩu súng các loại, 152 kiếm, mác, 1.499 quả mìn, lựu đạn, 24.740 viên đạn, 02 bộ dụng cụ chế tạo súng và 532 bàn chông[4].

Việc tổ chức cho các loại đối tượng trình diện và thu hồi vũ khí ngay sau khi tiếp quản các vùng mới được giải phóng đã góp phần rất quan trọng nhanh chóng ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh.

Công tác đấu tranh chống địch cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam trong thời gian này là một cuộc đấu tranh vô cùng gay go và quyết liệt.

Để thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự, làm bàn đạp tấn công miền Bắc và lập phòng tuyến ngăn chặn sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa lan xuống vùng Đông Nam Á, ngay khi đang đàm phán về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã hô hào sẽ tổ chức một cuộc di cư lớn người Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam sau khi Hội nghị Giơ ne vơ kết thúc.

Với những mưu mô nham hiểm đó, Mỹ đã phái Hồng y giáo chủ Spenman, giám mục Hacnét cùng với Elênxđên trùm CIA đến Sài Gòn phối hợp với bọn phản động đội lốt “Giáo hội Việt Nam” tổ chức chiến dịch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc di cư vào Nam. Linh mục Mai Học Lý, tổng quản địa phận Phát Diệm cầm đầu “Tổng ủy di cư” (còn gọi là Hội đồng di cư Bắc Việt) gửi thông điệp cho các linh mục quản xứ đe dọa sẽ trừng phạt nếu không thi hành cưỡng ép di cư. Đế quốc Mỹ đã bỏ ra 55 triệu đô la, Pháp chi 66 tỷ phrăng cho việc thực hiện âm mưu này[5]. Tháng 8 năm 1954, Ngô Đình Diệm, Thủ tướng bù nhìn do Mỹ dựng lên đã lớn tiếng hô hào: “Tôi sẽ hướng mọi nỗ lực của tôi vào công việc tổ chức di cư”.

Hòa bình lập lại chưa được bao lâu đã bị bọn phản động đội lốt tôn giáo dụ dỗ, cưỡng ép di cư. Chúng đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc để lừa mị giáo dân như: “Vào Nam là sự lựa chọn tự do, áo ấm cơm no lâu dài”.

Hoảng hốt trước những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, dụ dỗ và sự cưỡng ép bằng thần quyền, giáo lý của bọn phản động, hàng ngàn giáo dân từ khắp nơi trong tỉnh chen chúc nhau kéo về thị xã Đồng Hới tìm đường vào Nam. “Từ ngày 01 tháng 8 đến ngày 01 tháng 10 năm 1954, chúng đã cưỡng ép 10.045 giáo dân vào Nam”.[6]

Quán triệt Chỉ thị số 91/CT-TW-BCH của Trung ương Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Chi bộ Đảng của Ty Công an Quảng Bình đã cùng với Ban lãnh đạo Ty tổ chức huy động tất cả các lực lượng tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình để tham gia vào cuộc đấu tranh. Nhằm phát huy hiệu quả của biện pháp quản lý hành chính công khai, Ban Trị an hành chính đã thành lập hai trạm làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát giấy tờ người và phương tiện qua lại trên tuyến Quốc lộ 1A. Trạm số 1 đặt tại bờ nam sông Gianh nơi có bến phà từ xã Quảng Phúc (Quảng Trạch) qua xã Thanh Trạch (Bố Trạch). Trạm số 2 đặt ở xã Sen Thủy (Lệ Thủy), nơi tiếp giáp với khu vực Vĩnh Linh và khu phi quân sự tạm thời. Ở mỗi trạm lúc này đã có một đảng viên làm nòng cốt. Nhiều bài thơ, ca, hò vè đã được anh em Công an tự sáng tác để tuyên truyền vận động bà con giáo dân cảnh giác trước âm mưu dụ dỗ, mua chuộc của kẻ xấu như:

“Đời ta chỉ một lời thề

Trăm năm vàng đá không lìa xóm thôn”;

“Quyết tâm giữ lấy hòa bình

Không nghe Mỹ – Diệm lừa mình vào Nam”.

Bằng sự thuyết phục, vận động của anh em Công an đã có hàng trăm gia đình từ các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình nhận ra lẽ phải quay về lại quê hương. Bên cạnh đó, các biện pháp trinh sát bí mật đã xác lập nhiều chuyên án đấu tranh bắt các tên như Mai Lợ ở Hòa Ninh (Quảng Hòa) cùng bọn tay chân của hắn, chặt đứt đường dây dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Nhiều đảng viên của Chi bộ Công an tham gia vào các đoàn công tác của tỉnh về các địa bàn trọng điểm như Hướng Phương, Tân Mỹ, Cồn Sẻ, Giáp Tam (Quảng Trạch), Sen Bàng, Gia Hưng (Bố Trạch) thực hiện “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) để giúp dân trong sản xuất, ổn định đời sống, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con giáo dân, kiên trì giải thích các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, vạch rõ âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, vận động bà con yên tâm ở lại xây dựng quê hương. Cũng qua đó ta phát hiện ra nhiều kẻ cầm đầu giấu mặt như linh mục Trương Văn Liệu xứ Hòa Ninh, Hoàng Ngọc Hồ xứ Thanh Lạng, Lê Trọng Nghĩa… để có những đối sách thích hợp. Đối với bọn tội phạm hình sự lợi dụng thời cơ để trộm cắp, hôi của, cướp giật đều bị lực lượng Công an điều tra, khám phá, trừng trị theo quy định của pháp luật. Nhờ vậy tình hình dần dần đi vào ổn định, an ninh trật tự ngày càng được củng cố; Bọn phản động lợi dụng đạo Thiên chúa bị cô lập, tình hình giáo dân rời bỏ quê hương di cư vào Nam giảm dần và đi đến chấm dứt.

Theo: lịch sử Đảng bộ Công an tỉnh Quảng Bình

(Còn nữa)

[1] Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, tập II (1954 – 1975), tr.14, 15.

[2] Tám chính sách của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đối với các thành phố mới được giải phóng:

  1. Bảo vệ tính mệnh, tài sản của toàn thể nhân dân trong thành phố;
  2. Bảo vệ công thương nghiệp;
  3. Tiếp thu và quản lý các xí nghiệp, công sở của chính quyền Pháp và Bảo Đại;
  4. Bảo hộ các trường học, nhà thương, cơ quan văn hóa, giáo dục;
  5. Những viên chức trong các cơ quan chính quyền và Bảo Đại được tuyển dụng theo tài năng;
  6. Những sĩ quan, binh lính trong quân đội Pháp và Bảo Đại còn ở lại trong vùng mới giải phóng, sau khi đến ghi tên đều có thể được giúp đỡ về quê quán hoặc được tuyển dụng tùy theo năng lực;
  7. Bảo hộ tính mệnh và tài sản ngoại Kiều;
  8. Thực hiện tự do, dân chủ, bảo hộ tự do tín ngưỡng của nhân dân.

[3] Sau giải phóng Quảng Bình có gần 40 vạn dân. Trong toàn tỉnh có 3.465 đối tượng là ngụy quân, 1.556 đối tượng và ngụy quyền, 185 đối tượng là các đảng phái phản động.

[4]  Lịch sử CAND Quảng Bình, tập I (1945 – 1975), sđd, tr.90.

[5] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954 – 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992, tr.62.

[6] Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, tập II (1954 – 1975), sđd, tr.13.